Monday, October 25, 2010

19:- Paris Năm 1992/2


Nhìn công trình, chúng tôi chỉ biết tấm tắc khen và ngưỡng phục người xưa, đã dùng trí tuệ và công sức để xây dựng các công trình vĩ đại để lại cho nhân loại. Chúng tôi đi xem và chụp hình, nhưng chẳng có cách nào đưa ống kính để lấy được toàn bộ tháp, nó cao quá khoảng 300 mét, chúng tôi đi bộ ra rất xa mà cũng đành chịu, không có ống kính rộng, chúng tôi có đi xa lắm cũng chỉ chụp được hai phần ba chiều cao của tháp là cùng. Loay hoay chán, vưà mỏi chân lại vưà mỏi cổ, chúng tôi ra bờ Sông Seine rồi leo lên cầu nhìn xuống, thấy nó tắp tít bên dưới, phải mất vài lần xuống các bậc thang xây rộng rãi sạch sẽ mới là xuống đến bến tầu để du ngoạn trên sông. Hai bên bờ người ta xây bờ tường dựng đứng, trồng cây đều khắp, những con tầu đưa khách ngoạn cảnh sông và thành phố đi lại suôi ngược êm ả trên sông nước, không biết đến đoạn nào thì bờ sông mới thoai thoải như bờ sông bên mình đây? Chúng tôi cũng không lên tháp mà cũng chẳng du ngoạn trên sông, vì còn nhiều nơi phải đến cho hết một ngày, một ngày ngắn ngủi dành cho Paris.

Qua cầu ngay phiá trước Tháp Eiffel nối sang một công viên đẹp thoai thoải như lên đồi, với những súng phun nước được đặt nhiều hướng, phun lên không trung những bông nước trắng xoá, gần bức tường cuối, ngăn cách giữa công viên và một khu cao hơn, có những bức tượng khoả thân cao lớn, một nam, một nữ, mỗi tượng một bên cách nhau vài chục mét, nhiều du khách trẻ đứng nhìn ngắm cái toà thiên nhiên ấy rồi tủm tỉm cười, có người trèo lên ôm chân, ôm cẳng của tượng mà chụp một bô hình, giờ đã gần trưa, chúng tôi ngồi nghỉ chân bên thành lan can của công viên, chụp hình, quay phim, đi lên, đi xuống rồi ra chỗ xe đậu, lấy đồ ăn xuống đưa vào dưới thảm cỏ dưới bóng mát của các tàng cây bày ra ăn. Công viên có nhà cho du khách ngồi nghỉ chân, nhưng phải công nhận ở đây khó tìm chỗ để xả bầu tâm sự, muốn kiếm một chỗ gần gần cũng khó. Thế nên chúng tôi phải nhổ neo đi nơi khác, xe chạy vòng vèo qua viện bảo tàng nổi tiếng của Pháp (Musée du Louvre), chúng tôi cũng chẳng ghé vào, mà trực chỉ đến nhà thờ Đức Bà Notre Dame.















Bên ngoài nhà thờ Đức Bà Notre Dame

Nhà thờ Đức Bà Notre Dame thật cổ kính và to lớn, hai cây tháp cụt hai bên đã rêu phong đen xám, tiền đình có cái sân rộng trồng cây cảnh, la liệt các hoạ sĩ truyền thần ngồi đó đây chào mời du khách ngồi cho họ vẽ hình kỷ niệm. Trên ba cửa vòm chính cuối nhà thờ, chia thành ba gian, trên có tới hình hai mươi chín vị thánh đứng trên bệ ngang đều nhau, cùng với các hoa văn cũng màu đen xám. Vào bên trong, nhà thờ tối om, những tượng thờ được đặt đều khắp mỗi gian với ánh nến lung linh, trên cao của tường những ô cửa kính nhiều mầu được ghép lại hình ảnh Chúa hay các thánh rọi chút ánh sáng màu vào bên trong, còn nến thì cắm đặt trên những cây chân nến hình kim tự tháp, thắp sáng suốt ngày, sáp nến nhiểu xuống đóng thành cục đủ mọi hình thù bên dưới. Bám vào cây chân nến như những cây thạch nhũ trong các hang động thiên nhiên. Những cột xây bằng đá có bốn khe như múi khế nhưng tròn và to lớn, chiếm rất nhiều diện tích của nhà thờ. Chúng tôi theo đoàn du khách cũng tiến vào đi từ dưới lên trên vưà ngắm nhìn vưà thầm thì cầu nguyện.

Ra ngoài, thấy cháu Khanh đang đứng ở cuối xe nói nói, chỉ chỉ. Hỏi ra mới biết giờ cháu mới phát hiện ra xe bị kẻ gian cạy khoá ở chỗ Tháp Eiffel lấy mất ít đồ của cháu. Thế là cuộc vui cũng bị mất đi một tí vui, kể cũng hỗn thật, giữa thành phố đông đúc như vậy, lại giữa thanh thiên bạch nhật mà các ông đạo chích vẫn chẳng nể nang gì, chẳng cần suy nghĩ mà ai cũng cho thủ phạm là các chú Tây đen. Thế là chúng tôi xin chọn chương trình chặng chót, đến Quận 13, nơi dành cho khu buôn bán của người Á Châu.

Gửi xe xong, chúng tôi vào quán Phở Thu trên lầu ăn phở, vào đây chủ yếu là giải quyết cái bầu tâm sự ẩn ức đã lâu trước đã. Thanh thoả xong mới làm mỗi người một tô phở, uống ly nước rồi xuống phố thăm các sinh hoạt chợ buá Á Châu. Cũng na ná như nhau, tuy không đầy đủ hàng như ở Úc, nhưng ở đây cũng có thể là chợ đầu mối bán các mặt hàng Á Châu cho người Á Châu ở khắp miền Châu Âu. Chúng tôi cũng lên lầu ghé thăm Trung Tâm Thuý Nga và nhà sách Nam Á, lòng vòng một lúc, trời đã về chiều, chúng tôi sửa soạn rời Paris, rời Pháp dù còn vấn vương nhưng đành lưu luyến chia tay vậy.

Đường về, chúng tôi chia đôi ngả, Cháu Khanh Thanh, Dũng, Phụng quay lại đường cũ để về Hoà Lan, còn lại xe chúng tôi rẽ hướng khác để sang Đức. Đường xá Đức rất tốt mà xe cộ lại không bị hạn chế tốc độ, mình không có sức mà chạy thôi, vì thế xe không có lúc nào chạy dưới 120 km/ giờ mặc dù có mưa nhè nhẹ, nên đường có xa, xe chạy có nhanh, cũng phải mất 6 giờ mới tới nhà anh chị Khử. Ông chủ nhà đã ngủ khì để mai còn đi làm, chúng tôi cũng vội vàng tắm rửa để còn kịp ngủ. Sáng hôm sau, chủ nhà đi làm khi chúng tôi còn nằm đầy trên sàn nhà ngủ, trưa trưa mới dậy, ăn một bữa ăn sáng do chị Khử khoản đãi với thứ bia đặc sản của Đức đen xì, uống vào cũng thấy thấm ngay. Rồi anh Khử xin phép sở về sớm, chúng tôi cùng kéo nhau xuống phố. Đi thăm thành phố D’u’sseldorf lòng vòng một hồi rồi kéo nhau qua thăm gia đình anh chị Giáo Hoà ở một khu phố khác.

Anh chị Hoà và gia đình được anh chị Khử báo trước, nên cả gia đình đều ở nhà chờ chúng tôi, chúng tôi ngồi uống nước chuyện vãn với nhau hàng giờ đồng hồ, hỏi thăm nhau và kể cho nhau nghe đủ mọi thứ chuyện, biết chúng tôi không có nhiều thời gian, nên chẳng ai dám giữ chúng tôi ở lại, xế chiều, chúng tôi chia tay nhau để về lại Hoà Lan. Trên đường về chúng tôi tranh thủ ghé thăm Thanh để đáp lễ lại, vì khi cô nghe chúng tôi qua cũng đã đón xe lửa đến thăm chúng tôi, sau đó cũng ghé thăm Hoàng ( Kỳ), đến cả nhà cũ lẫn nhà vưà mới xây xong chưa ở, cả hai cùng ở Tỉnh Arnhem. Về được đến nhà gần 8 giờ tối. Ai cũng mệt, đi ròng rã hai ngày, đi chơi mà cứ như chạy giặc, vì nhiều địa điểm muốn đến quá, đã nằm trong chương trình. Mọi người mai lại phải đi chợ, chỉ có vợ chồng chúng tôi là khách là còn rảnh rang, nên ai cũng muốn đi nghỉ sớm.

Mặc dù chị tôi không nói ra, nhưng tôi chắc chắn là chị cũng rất mệt vì những ngày qua đưa chúng tôi đi nhiều nơi quá. Thế nhưng hôm sau, khi đi chợ bán hàng xong trở về, chị lại thu xếp đưa chúng tôi đi chơi Amsterdam, Thủ đô của Hoà Lan, với những thắng cảnh cổ kính, nhiều công trình có hàng trăm tuổi, đền đài, cung điện, hoàng cung, phố xá đông vui sầm uất, đến công trường gần hoàng cung, nơi có những người nghệ sĩ đóng vai người máy, họ đóng giả làm những rô bô, tay chân cử động giật giật, gỉa như thật, và thật cũng như giả. Chim bồ câu ở đây rất nhiều, quen sống với du khách nên rất dạn dĩ, bay xà xuống tay, xuống đầu tranh ăn khi ai đó mua thức ăn cho chim. Phiá đối diện một khách sạn quốc tế lớn ngay dưới chân một trụ đá tròn của công viên, la liệt những thanh niên trông dáng vẻ bụi đời, kẻ ngồi, người dựa cột, dựa tường, vẻ bất cần đời, coi thiên hạ như không có, hỏi ra thì toàn là người yêu của cô ba phù dung( xì ke), vì Hoà Lan là nước Châu Âu duy nhất có phát thuốc và thay kim cùng ống chích cho người yêu của cô Ba? Chúng tôi cũng xuống du thuyền làm một cuộc du ngoạn trên sông giữa lòng thành phố Amsterdam, trước khi từ giã để ngày mai lên đường về lại Úc.

Có được những ngày vui đáng nhớ như kể trên, chúng tôi đều nhờ vào sự ưu ái đặc biệt của chị tôi, chị chẳng ngại tốn kém cả về thời giờ và tiền bạc, dành hết cho tôi những gì mà khả năng chị có thể. Miễn là chúng tôi vui, các cháu cũng hết lòng với cậu, nhưng chị tôi đi với chúng tôi thì các cháu phải trám vào cái chỗ mà khi chị đi vắng nhà để lại, cho nên các cháu cũng chỉ gặp tôi vào buổi tối, tâm sự với nhau đôi điều, kể cho nhau nghe những kỷ niệm xa xưa của các cháu khi còn bé. Cũng qua chị mà chúng tôi được một người đã lo giúp cho chúng tôi xuyên suốt những ngày vui chơi ở Châu Âu, đó là chú Linh với biệt danh là (Cụ). Vâng, Cụ đã hầu như làm tài xế kể từ lúc chúng tôi rời phi trường, đi đó, đi đây khắp các nơi ở Hoà Lan, sang Pháp, sang Đức, Cụ cũng còn là một nhà nhiếp ảnh chụp lại cho chúng tôi những hình ảnh những nơi chúng tôi đã được Cụ đưa đến, Cụ cũng còn là một cameraman ghi lại những băng video cho chúng tôi làm kỷ niệm về chuyến đi chơi, và qua Cụ, chúng tôi cũng biết ăn món cá sống ăn với hành tây thắt hạt lựu, món ăn đặc biệt của người Hoà Lan mà tôi xin kể sơ, nó là cá biển, chẳng biết tên là cá gì, ngư phủ đánh bắt được, họ làm sạch sẽ rồi thắt thành miếng nhỏ như ngón tay, vưà miếng, ướp lạnh mang về bày bán, khách hàng đi ngang muốn ăn, họ mua được người bán hàng bán chung với một ít hành tây thái hạt lựu, rồi rất tự nhiên, thò tay nhón một miếng chấm với hành rồi đưa lên miệng ăn ngon lành, giống như dân mình ăn gỏi. Tôi đã ăn thấy cũng được, nhưng vì lạ và mới ăn lần đầu nên chưa cảm hay nghiền, cũng may chứ nếu mà nghiền cũng khó có dịp ăn lại vì ở Úc không có món này. Chẳng biết nói gì hơn về Cụ, chỉ xin Cụ biết cho rằng chúng tôi có lời xin cám ơn Cụ đấy.

Hôm sau chúng tôi rời Hoà Lan, Chị và các cháu đều đi tiễn, có thêm anh Hinh cùng đi với chúng tôi ra phi trường, thế là sau cả mười năm xa cách, chị em chúng tôi đã được gặp nhau, cùng vui chơi với nhau hai tuần lễ ngắn ngủi để rồi lại lưu luyến chia tay nhau với lời hẹn sẽ gặp lại nhau vào một dịp khác. Tuy biết rằng giờ ở xứ người, có xa nhau thật, nhưng muốn cũng dễ gặp lại, ấy vậy mà lúc chia tay, chúng tôi cũng rất xúc động, bà xã tôi thì không sao cầm được nước mắt khi buông tay chị ra để vào khu phòng đợi của phi trường. Dù sao chúng tôi cũng chẳng thể nào quên được những tình cảm đặc biệt chị đã ưu ái dành cho chúng tôi. Cũng may là chúng tôi chẳng phải đợi nhau lâu, chỉ có mấy tháng sau, chị lại sang Úc, đáp lại lời mời của gia đình tôi mời chị và các cháu sang dự đám cưới con gái đầu lòng của chúng tôi.

Khi về, chúng tôi lại đi theo một lộ trình khác, xa hơn. Nên câu đi xa về gần không còn đúng với chúng tôi. Chúng tôi được chở qua Phi Trường Charles De Gaulle ở Pháp thêm 398 km rồi về Abu Dhabi, rồi Băng Kok, Jakarta, Bali, Melbourne dài thêm hơn 3.000 cây số thành 19.062 cây. Kết thúc một chuyến đi Tây rất vui mà ngắn ngủi.

Melbourne, Tháng Chín, năm 2003.
Trần Văn Minh.

No comments:

Post a Comment